Aa
Bookmark (0)
Please login to bookmarkClose

Cuộc chiến Iran-Israel-Mỹ còn kéo dài bao lâu? Các kịch bản có thể xảy ra trong năm 2026

Chỉ trong vòng sáu ngày kể từ khi Mỹ và Israel phát động các cuộc không kích vào Iran, thế giới đã thay đổi hoàn toàn.

Eo biển Hormuz – tuyến đường huyết mạch vận chuyển khoảng 20% lượng dầu thô toàn cầu – gần như đã bị đóng cửa hoàn toàn lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại. Hiện khoảng 92% lưu lượng tàu thuyền qua khu vực này đã dừng lại.

Image

Đây không còn là cuộc xung đột chớp nhoáng, nả tên lửa nho nhỏ như nhiều người từng kỳ vọng. Kịch bản một đến hai ngày đánh nhanh rút gọn đã hoàn toàn sụp đổ.

Ban đầu, nhiều chuyên gia cho rằng phía Mỹ-Israel đang chạy chiến lược (vừa bằng quân sự, vừa bằng kích động lời nói) nhằm khiến tầng lớp người Iran nổi dậy lật đổ chính quyền hiện tại. Anh em có thể thấy kịch bản tương tự với Venezuela trong thời gian ông Maduro còn nắm quyền.

Nhưng thực tế đã đi theo hướng khác hoàn toàn. Tổng thống Trump hiện cân nhắc các phương án khác như trang bị vũ khí cho các lực lượng dân quân khu vực, hoặc làm việc trực tiếp với chính quyền Iran hiện tại để áp đặt nhà lãnh đạo mới được Washington chấp thuận.

Dù kết cục chính trị như thế nào, cuộc chiến này sẽ rất dài hơi và anh em ta nên chú ý đến dầu.

Từ $55 lên $80 chỉ trong ba tháng và hành trình chưa dừng lại

Để hiểu tại sao giá dầu lại có sức mạnh chi phối đến vậy, ta cần nhìn lại bức tranh năm ngoái.

Chỉ bốn tháng trước, vào tháng 12/2025, giá dầu thô tại Mỹ đã xuống dưới 55 USD/thùng lần đầu tiên kể từ năm 2021. Giá xăng tại các trạm bơm rơi xuống mức thấp nhất trong hơn bốn năm. Tổng thống Trump thậm chí công khai kêu gọi đẩy giá xăng xuống dưới 2 USD/gallon, Mức giá này chỉ từng xuất hiện trong thời kỳ đại dịch COVID-19 năm 2020, khi toàn bộ nền kinh tế gần như đóng băng.

Vào tháng 10/2025, Nhà Trắng còn ra thông cáo báo chí để khoe thành tích của Trump trong lĩnh vực năng lượng. Nội dung thông cáo nói rằng, nhờ chính sách thúc đẩy khai thác và sản xuất dầu khí trong nước của Trump, giá xăng tại các trạm bơm trên toàn nước Mỹ đang giảm xuống, gần chạm mức thấp nhất trong vòng bốn năm.

Nôm na là Trump đang tự nhận công rằng chính sách năng lượng của ông đang giúp người Mỹ đổ xăng rẻ hơn.

Image

Đó là tháng 10. Còn bây giờ là tháng 3/2026.

Toàn bộ thành quả đó đã bị xóa sạch. Giá dầu thô Mỹ đã tăng hơn 45% so với tháng 12, hiện giao dịch quanh mức 80 USD/thùng. Giá dầu Brent đang tiến sát ngưỡng 90 USD. Giá xăng bán lẻ tại Mỹ sắp vượt 3.30 USD/gallon và vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại.

Giá dầu của Mỹ - Từ tháng 12/2025 đến tháng 3/2026. Nguồn: The Kobeissi Letter.
Giá dầu của Mỹ – Từ tháng 12/2025 đến tháng 3/2026. Nguồn: The Kobeissi Letter.

Tính từ ngày ông Trump nhậm chức 20/1/2025, giá dầu hiện đã dương so với thời điểm đó. Nghĩa là một trong những cam kết kinh tế lớn nhất của ông đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn.

Iran không thể thắng trên chiến trường nhưng họ biết mình có thể thắng ở đâu

Có một sự thật không thể phủ nhận, về mặt quân sự, Iran không có cơ hội nào đối đầu với Mỹ trong dài hạn.

Ngân sách quốc phòng của Mỹ năm 2026 được ước tính từ 900 tỷ đến gần 1,000 tỷ USD. Con số tương ứng của Iran chỉ dao động từ 10 đến 25 tỷ USD. Khoảng cách này là từ 40 đến 90 lần, tức là gần như không thể so sánh được. Mỹ vượt trội hoàn toàn về công nghệ, sức mạnh hải quân, không quân và khả năng duy trì chiến tranh kéo dài.

Image

Vậy Iran còn lại gì? Đúng hai thứ, dầu mỏ và Eo biển Hormuz.

Điều đáng chú ý là trong 24 đến 48 giờ đầu tiên sau khi xung đột nổ ra, Iran không hề đề cập đến Eo biển Hormuz. Họ không chính thức đe dọa hay tuyên bố đóng cửa tuyến đường này. Chỉ đến ngày 2/3, khi các cuộc không kích của Mỹ và Israel ngày càng leo thang, Tehran mới chính thức tuyên bố: “Chúng tôi sẽ không cho phép dầu mỏ rời khỏi khu vực.”

Đây là nước đi có tính toán kỹ lưỡng. Iran cần thời gian để đánh giá xem mức độ nghiêm trọng của cuộc xung đột đến đâu trước khi rút ra con bài chiến lược lớn nhất của mình.

Hơn 20 triệu thùng dầu mỗi ngày bị ảnh hưởng, chiếm khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu. Thị trường phản ứng ngay lập tức.

Eo biển Hormuz có vị thế chiến lược quan trọng.
Eo biển Hormuz có vị thế chiến lược quan trọng.

Cuộc chiến kinh tế đang diễn ra song song với cuộc chiến quân sự

Khi Eo biển Hormuz bị đóng cửa hiệu quả, không chỉ giá dầu tăng, toàn bộ chuỗi logistics năng lượng toàn cầu bắt đầu vỡ vụn.

Chi phí thuê một tàu chở dầu siêu trọng để vận chuyển 2 triệu thùng dầu thô từ vùng Vịnh Mexico của Mỹ đến Trung Quốc hiện đã vượt 29 triệu USD – mức cao kỷ lục trong lịch sử. Chỉ riêng chi phí vận chuyển đã chiếm khoảng 14.50 USD mỗi thùng, tương đương 18% giá dầu hiện tại. Và con số này đã tăng gấp đôi chỉ trong vòng hai tuần.

Trong khi đó, phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh cho tàu chở dầu cũng tăng vọt. Bảo hiểm cho một tàu chở dầu trị giá 100 triệu USD đã nhảy từ khoảng 250,000 USD lên đến hàng triệu USD cho mỗi chuyến đi. Mức phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh tổng thể đã tăng hơn 50% kể từ khi xung đột nổ ra.

Đây là một vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều anh em nghĩ. Về mặt pháp lý, Eo biển Hormuz là vùng nước quốc tế, không quốc gia nào sở hữu nó.

Nhưng nếu các công ty bảo hiểm từ chối cấp bảo hiểm cho tàu thuyền qua đây, các chủ tàu sẽ không mạo hiểm. Kết quả là dòng chảy dầu mỏ bị chặn đứng trên thực tế, dù tuyến đường về mặt kỹ thuật vẫn “mở.”

Ngay cả khi Hải quân Mỹ hộ tống tàu thuyền qua khu vực này, họ chỉ có thể hộ tống một số lượng nhất định tàu tại một thời điểm. Điều đó có nghĩa là phí bảo hiểm sẽ tiếp tục ở mức cao và dầu mỏ sẽ tiếp tục khan hiếm, cho đến khi rủi ro được loại bỏ hoàn toàn.

Trump đã phải ra tay nhưng hiệu ứng chỉ kéo dài được bao lâu?

Ngày 3/3/2026, Tổng thống Trump lần đầu tiên phải công khai thừa nhận áp lực từ thị trường năng lượng. Ông ra lệnh cho Tập đoàn Tài chính Phát triển Mỹ (DFC) cung cấp bảo lãnh bảo hiểm rủi ro chính trị cho toàn bộ hoạt động thương mại hàng hải qua Vịnh Persian.

Đồng thời, ông Trump cũng thông báo Hải quân Mỹ sẽ bắt đầu hộ tống các tàu chở dầu qua Eo biển Hormuz.

Sau tin đó, giá dầu lao dốc gần 10%, xuống còn khoảng 71 USD/thùng ngay sau tuyên bố đó. Căng thẳng tạm thời được kiểm soát.

Image

Nhưng đó chỉ là tạm thời. Hiện tại, giá dầu đã leo trở lại trên mức 81 USD/thùng, cao hơn khoảng 5% so với thời điểm trước tuyên bố ngày 3/3. Điều này cho thấy can thiệp của chính phủ có thể trì hoãn đà tăng, nhưng không thể đảo ngược xu hướng chừng nào Eo biển Hormuz vẫn còn trong tình trạng hiện tại.

Và chắc chắn sẽ còn nhiều can thiệp tương tự trong những ngày tới, bởi vì Washington hiểu rõ, họ không thể để giá dầu tiếp tục leo thang mà không phản ứng.

Tại sao $90-$100/thùng là ngưỡng không thể vượt qua với Trump?

Để hiểu tại sao giá dầu lại quan trọng đến vậy với chính quyền Trump, anh em cần nhìn vào tác động lạm phát của nó. Mình có nhắc vấn đề này ở những bài trước.

Theo nghiên cứu của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), cứ mỗi 10 USD tăng thêm trong giá dầu, lạm phát CPI sẽ tăng thêm khoảng 0.20 điểm phần trăm (20 bps).

Từ mức 55 USD/thùng hồi tháng 12, dầu đã tăng lên 80 USD, tức tăng 25 USD. Theo công thức trên, điều này đã và đang tạo ra áp lực lạm phát khoảng 0.50 điểm phần trăm. Nếu CPI trước đó ở mức 2.4%, mức lạm phát hiện tại có thể đang tiến gần đến 2.9%.

Nhưng nếu giá dầu tiếp tục tăng:

  • 95 USD/thùng -> CPI ở mức ~3.2%
  • 110 USD/thùng -> CPI ở mức ~3.5%
  • 130 USD/thùng -> CPI ở mức ~3.9%
  • 150 USD/thùng -> CPI có thể chạm ~4.3%

Theo JP Morgan, nếu Eo biển Hormuz bị đóng cửa kéo dài, giá dầu có thể chạm 120-130 USD/thùng. Lần cuối cùng lạm phát Mỹ ở mức 5% là vào tháng 3/2023. Đó là khi Fed đang tăng lãi suất quyết liệt nhất trong nhiều thập kỷ.

Nghiên cứu của Cục Dự trữ Liên bang về giá dầu và lạm phát.
Nghiên cứu của Cục Dự trữ Liên bang về giá dầu và lạm phát.

Đây là kịch bản kinh tế mà không ai muốn lặp lại, đặc biệt là trong một năm bầu cử giữa kỳ.

Ngoài ra, chỉ số Dow Jones Industrial Average đã giảm thêm hơn 1,100 điểm trong ngày 5/3, phản ánh lo ngại ngày càng tăng của thị trường về viễn cảnh lạm phát leo thang và kinh tế suy yếu đồng thời.

 

Trong một năm bầu cử giữa kỳ (khoảng 8 tháng nữa là đến ngày bầu cử), khả năng chi trả của người dân vẫn là mối lo ngại số của cử tri Mỹ, bỏ xa tất cả các vấn đề khác. Đây chính là điểm yếu chiến lược mà Iran đang khai thác.

Image

Vì vậy, trong phân tích của nhiều chuyên gia tài chính, ngưỡng $90-$100/thùng chính là “lằn ranh đỏ” mà Tổng thống Trump sẽ không để bị vượt qua mà không có hành động quyết liệt, dù trên thị trường hay trên chiến trường.

Vậy cuộc chiến sẽ kết thúc khi nào?

Câu trả lời, đơn giản đến mức kỳ lạ, là khi giá dầu buộc nó phải kết thúc.

Đây là cuộc xung đột bất đối xứng hoàn toàn theo nghĩa quân sự. Mỹ có thể duy trì áp lực quân sự lên Iran gần như vô thời hạn nếu chỉ tính về ngân sách và khí tài. Nhưng Iran không cần phải thắng trên chiến trường, họ chỉ cần làm cho cái giá kinh tế của cuộc chiến trở nên quá đắt đối với Washington.

Chiến lược của hai bên trong những ngày tới sẽ là:

  • Phía Mỹ và Israel: Tiếp tục tăng cường không kích, gây áp lực tối đa lên chính quyền Tehran, kết hợp với các biện pháp can thiệp thị trường năng lượng để kiềm chế giá dầu dưới ngưỡng nguy hiểm.
  • Phía Iran: Không cần phải chiến thắng, chỉ cần tồn tại đủ lâu. Mỗi ngày Eo biển Hormuz tiếp tục bị đóng cửa, mỗi ngày giá dầu tiếp tục leo thang, Iran đang thắng trong ván cờ kinh tế của mình. Và trong năm bầu cử giữa kỳ, thời gian là kẻ thù của chính quyền Trump.

Kịch bản có khả năng xảy ra cao nhất là khi giá dầu chạm ngưỡng 90-100 USD/thùng và duy trì ở đó đủ lâu để tạo áp lực lạm phát rõ ràng và đẩy thị trường chứng khoán tiếp tục lao dốc, chính quyền Trump sẽ phải tìm kiếm một lối thoát ngoại giao. Áp lực chính trị trong nước khi đó sẽ lớn hơn bất kỳ tính toán địa chính trị nào.

Nếu chiến tranh kéo dài, kinh tế toàn cầu và Bitcoin như nào?

Cho đến nay, phần lớn các phân tích đều tập trung vào dầu mỏ, lạm phát, và bầu cử giữa kỳ của Mỹ. Nhưng nếu xung đột kéo dài vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các can thiệp ngắn hạn, bức tranh kinh tế toàn cầu sẽ phức tạp hơn rất nhiều. Và thị trường crypto, đặc biệt là Bitcoin, sẽ đứng ở vị trí cực kỳ thú vị.

Kịch bản đáng lo ngại nhất không phải là lạm phát đơn thuần mà là stagflation. Nghĩa là lạm phát cao kết hợp với tăng trưởng kinh tế suy yếu đồng thời.

Một mặt, giá dầu leo thang đẩy chi phí sản xuất, vận chuyển và tiêu dùng lên cao trên toàn cầu. Doanh nghiệp chịu áp lực biên lợi nhuận, người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu và niềm tin kinh tế bắt đầu suy giảm.

Mặt khác, sự gián đoạn của chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu – đặc biệt với các quốc gia châu Á phụ thuộc lớn vào dầu từ Trung Đông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Trung Quốc – sẽ tạo ra cú sốc cung thực sự, không thể giải quyết chỉ bằng chính sách tiền tệ.

Fed lúc đó sẽ rơi vào thế kẹt kinh điển, tăng lãi suất để chống lạm phát thì bóp nghẹt tăng trưởng, giữ nguyên hoặc cắt lãi suất thì lạm phát tiếp tục bùng phát. Không có lựa chọn nào là tốt. Và thị trường tài chính ghét sự không chắc chắn hơn bất cứ điều gì.

Thêm vào đó, nếu Eo biển Hormuz bị gián đoạn kéo dài, một số nền kinh tế mới nổi phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng có thể phải đối mặt với khủng hoảng cán cân thanh toán. Đồng nội tệ mất giá, dự trữ ngoại hối cạn kiệt, và áp lực vỡ nợ.

Đây không còn là rủi ro của riêng Mỹ hay Iran, đây là rủi ro mang tính hệ thống toàn cầu.

Bitcoin và Crypto: Không phải “vàng kỹ thuật số” trong mọi hoàn cảnh

Mỗi lần có khủng hoảng địa chính trị, anh em crypto lại nhanh chóng đưa ra luận điểm quen thuộc: “Bitcoin là vàng kỹ thuật số, là tài sản trú ẩn an toàn, là hàng rào chống lạm phát”. Tất nhiên, về mặt niềm tin, nó là thế.

Nhưng thực tế, phức tạp hơn thế rất nhiều và lịch sử đã nhiều lần chứng minh điều đó.

Ngắn hạn, Bitcoin có thể bị bán tháo cùng với các tài sản rủi ro khác

Trong giai đoạn đầu của bất kỳ cuộc khủng hoảng lớn nào, dòng tiền không chạy vào Bitcoin, nó chạy vào vàng vật lý. Đây là phản xạ có điều kiện của thị trường tài chính truyền thống, vốn vẫn chiếm phần lớn tuyệt đối dòng vốn toàn cầu.

Khi Dow Jones giảm 1,100 điểm trong một ngày, khi quỹ phòng hộ và tổ chức lớn phải đáp ứng lệnh margin call hoặc giảm tỷ lệ rủi ro trong danh mục, Bitcoin thường là một trong những thứ bị bán ra đầu tiên để lấy thanh khoản. Đây là điều đã xảy ra trong COVID tháng 3/2020 và là điều có thể xảy ra lại nếu thị trường bước vào giai đoạn hoảng loạn thực sự.

Trung hạn, câu chuyện “hàng rào lạm phát” có thể trở lại nhưng có điều kiện

Nếu chiến tranh kéo dài đủ lâu để lạm phát thực sự leo thang – chạm 3.5%, 4%, thậm chí cao hơn – và Fed bị kẹt không thể tăng lãi suất mạnh vì sợ bóp nghẹt kinh tế, lúc đó câu chuyện về Bitcoin như tài sản chống lạm phát mới thực sự có sức hút.

Lý do là nguồn cung Bitcoin bị giới hạn cứng ở 21 triệu đồng, không có ngân hàng trung ương nào có thể in thêm. Trong môi trường mà niềm tin vào khả năng kiểm soát lạm phát của các ngân hàng trung ương bị xói mòn, tài sản có nguồn cung cố định – bao gồm cả vàng và Bitcoin – có xu hướng được tích lũy.

Chu kỳ này đã từng diễn ra trong giai đoạn 2020-2021, khi Fed bơm tiền ồ ạt vào nền kinh tế và Bitcoin tăng từ dưới 10,000 USD lên gần 70,000 USD. Dù bối cảnh lần này khác, logic cơ bản không thay đổi. Khi tiền fiat mất sức mua, người ta tìm đến thứ có nguồn cung không thể bị thao túng.

Dài hạn, chiến tranh có thể là chất xúc tác – hoặc cú đòn chí mạng – tùy vào quy mô

Nếu xung đột Iran kéo dài nhưng vẫn trong tầm kiểm soát, không leo thang thành xung đột khu vực rộng hơn, Bitcoin có thể hưởng lợi từ câu chuyện phi tập trung hóa và chống kiểm duyệt tài chính.

Các quốc gia và cá nhân bị cô lập khỏi hệ thống tài chính truyền thống – do lệnh trừng phạt, kiểm soát vốn, hoặc sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng địa phương – thường tìm đến crypto như một giải pháp thay thế thực dụng. Đây là một nhu cầu thực, không phải đầu cơ.

Tuy nhiên, nếu xung đột leo thang nghiêm trọng hơn, kéo theo các quốc gia khác trong khu vực, làm gián đoạn cơ sở hạ tầng internet tại Trung Đông, hoặc dẫn đến sự sụp đổ thanh khoản trên các sàn giao dịch lớn, toàn bộ thị trường crypto có thể chịu một cú sụt giảm mạnh và kéo dài, không kém gì những gì đã xảy ra với FTX hay LUNA trước đây.

Điều cần theo dõi trong thị trường crypto khi chiến tranh tiếp diễn

Có ba tín hiệu cụ thể đáng quan sát:

Một là tương quan giữa Bitcoin và vàng. Nếu cả hai cùng tăng khi thị trường chứng khoán giảm, đó là dấu hiệu Bitcoin đang được thị trường chấp nhận như tài sản trú ẩn thực sự. Nếu Bitcoin giảm trong khi vàng tăng, điều đó cho thấy dòng tiền tổ chức vẫn chưa tin tưởng crypto trong hoàn cảnh khủng hoảng.

Hai là dòng vốn vào các stablecoin. Khi người dùng ở các khu vực có đồng tiền mất giá bắt đầu chuyển mạnh sang USDT hay USDC, đó là bằng chứng cho thấy crypto đang thực sự đóng vai trò là công cụ bảo toàn giá trị trong thực tế.

Ba là phản ứng của thị trường với mỗi lần giá dầu vượt ngưỡng mới. Nếu mỗi lần dầu tăng mạnh, Bitcoin cũng tăng theo thay vì giảm cùng chứng khoán, câu chuyện “hàng rào chống lạm phát” đang dần được thị trường hấp thụ và định giá lại.

Kết

Chiến tranh kéo dài không có nghĩa là Bitcoin sẽ tự động tăng giá. Nhưng nó tạo ra những điều kiện mà trong đó luận điểm dài hạn của Bitcoin trở nên thuyết phục hơn bao giờ hết. Nguồn cung giới hạn, phi tập trung, không bị kiểm soát bởi bất kỳ chính phủ hay ngân hàng trung ương nào.

Nghịch lý là thứ khiến Bitcoin nguy hiểm trong ngắn hạn – sự biến động cao, thanh khoản mỏng hơn vàng, tâm lý đầu cơ còn lớn – lại chính là thứ khiến nó trở nên hấp dẫn trong dài hạn nếu thế giới bước vào một kỷ nguyên bất ổn địa chính trị kéo dài.

Vì vậy, anh em phải theo dõi giá dầu để biết cuộc chiến kết thúc khi nào. Theo dõi lạm phát để biết Fed sẽ làm gì. Và theo dõi cả hai để hiểu Bitcoin sẽ đi đâu tiếp theo.


Đây là bài phân tích tổng hợp từ dữ liệu thị trường và các nhận định kinh tế vĩ mô, không khuyến nghị đầu tư.

Một số bài viết khác: 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *